Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng càng ngày càng phổ biến, do áp lực công việc quá cao, chế độ ăn uống không hợp lí và còn nhiều nguyên nhân khác nữa. Chúng ta cùng đi tìm hiểu bệnh viêm loét dạ dày tá tràng qua bài viết sau.
>> Có thể bạn quan tâm: Thuốc Trường an vị
1 Nguyên nhân nào gây viêm loét dạ dày – tá tràng
Trước khi đến với điều trị, chúng ta phải hiểu rõ các nguyên nhân khác nhau gây ra viêm loét ở dạ dày và tá tràng. Điều này là bởi vì tùy thuộc vào các nguyên nhân khác nhau mà ta có các cách điều trị phù hợp. Trước kia người ta tin rằng căng thẳng và ăn uống thiếu khoa học là nguyên nhân chính. Xong trên thực tế căng thẳng và chế độ ăn chỉ làm nặng thêm các triệu chứng của bệnh. Dưới đây sẽ là một số nguyên nhân chính:
Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori: Đây là nguyên nhân chính, chiếm đến 60 – 90% các trường hợp viêm loét dạ dày – tá tràng. Những vi khuẩn này có thể lây truyền từ người này sang người khác, qua nước bị ô nhiễm, thực phẩm và cư trú sâu trong niêm mạc dạ dày. Các chất hóa học do chúng sản xuất ra sẽ gây kích ứng, viêm và trầy xước lớp niêm mạc dạ dày.
Sử dụng thuốc: Sử dụng thường xuyên một số loại thuốc như thuốc giảm đau, chống viêm nhóm NSAIDs, thuốc điều trị viêm khớp, corticoid, thuốc điều trị cao huyết áp….có thể dẫn đến viêm loét dạ dày. Những loại thuốc này làm giảm sản sinh chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày, tạo cơ hội cho axit dịch vị dễ dàng tấn công vào lớp niêm mạc. Ngoài ra chúng còn làm chậm lưu lượng máu đến niêm mạc dạ dày khiến cho quá trình chữa bệnh khó khăn hơn.
Bị bệnh: Mắc một số bệnh lý như đái tháo đường, hạ đường huyết, hội chứng cushing, xơ gan… cũng là nguyên nhân gây ra viêm loét dạ dày.
2 Điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng như thế nào?
Nguyên tắc điều trị:
+ Dựa trên cơ sở sinh lý bệnh để loại trừ các yếu tố gây bệnh hoặc làm bệnh trầm trọng hơn như stress, xoắn khuẩn HP, các thuốc chống viêm nhóm NSAIDs, tăng tiết HCL…
+ Bình thường hóa chức năng dạ dày
+ Tăng cường các quá trình tái tạo niêm mạc, loại trừ các bệnh kèm theo.
Mục tiêu điều trị viêm loét dạ dày bao gồm:
+ Giảm yếu tố gây loét (HCl và pepsin).
+ Tăng cường yếu tố bảo vệ (chất nhầy và bicarbonat).
+ Diệt trừ HP.
Việc chữa trị được thực hiện sau khi bệnh chẩn đoán chính xác. Có thể chẩn đoán viêm loét dạ dày bằng nội soi, sinh thiết, làm các test kiểm tra sự có mặt của vi khuẩn HP….Sau khi chẩn đoán được thực hiện, người ta sẽ đưa ra phác đồ điều trị bao gồm sự kết hợp của các thuốc khác nhau. Các thuốc điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng hiện nay được chia thành các nhóm bao gồm:
- Thuốc chống acid(antacid): Các thuốc loại này có khả năng trung hòa HCL đã được bài tiết vào dạ dày. Hay dùng là các muối và hydroxid của alumini và magnesi với các biệt dược như Alusi, Phosphalugel, Maalox, Gastropulgit…
Các thuốc loại này có tác dụng nhanh nhưng ngắn, vì vậy hiện nay được dùng để cắt cơn đau và giảm nhanh triệu chứng.
- Các thuốc bảo vệ niêm mạc, băng bó ổ loét:
+ Loại kích thích tạo và bài tiết chất nhầy như cam thảo( có trong thành phần của Kavet), dimixen, teprenon( Selbex), prostaglandin E1( Misoprostol, Cytotex)
+ Mucosta, Rebamipid có tác dụng kích thích niêm mạc dạ dày tiết ra prostaglandin, cải thiện chất lượng của chất nhầy do tăng glycoprotein trong thành phần chất nhầy, ức chế bạch cầu đa nhân trung tính sản sinh cytokine, interleukine-8, ức chế sự bám dính của HP vào niêm mạc, làm lành ổ loét, ngăn ngừa loét tái phát.
+ Sucralfat: Thành phần là alumini saccharose sufat, chất này khi gặp HCL sẽ chuyển thành một lớp dính quánh gắn lên ổ loét.
+ Vitamin: nên cho vitamin U, B1,B6,PP. Các vitamin này có tác dụng bảo vệ, điều hòa độ acid và giúp cơ thể hấp thụ nhanh các chất dinh dưỡng
- Các chất chống bài tiết axit:
+ Thuốc ức chế thụ thể H2 của Histamin: Cơ chế chủ yếu của thuốc này là cản trở sự gắn của của histamin lên thụ thể H2, do đó kìm hãm sự tạo HCL. Bao gồm cimetidin, rannitidin, famotidin, nizatidin…
+ Thuốc ức chế bơm proton H+/K+ AT Pase: Các thuốc này ức chế hoạt động của bơm H+/K+ ATPase làm cho TB bìa không còn khả năng tiết HCL
- Thuốc tiêu diệt vi khuẩn HP:
Các thuốc được dùng gồm:
+ Kháng sinh: Cơ chế tác dụng ức chế tổng hợp protein hoặc làm rối loạn quá trình tổng hợp acid nucleic của vi khuẩn. Kháng sinh được dùng phổ biến là amoxicilin, tetracyclin, clarythromycin
+ Nhóm 5-nitro imidazol: Metronidazol, tinidazol...
+ Bismuth: Bismuth là kim loại nặng. Cơ chế diệt HP là gây đông vón protein của vi khuẩn. Người ta thường dùng bismuth dưới dạng các thuốc hữu cơ như: Colloidal bismuth subnitrat( CBS) hoặc tripotatsium dicitrato bismuth(TDB) có kích thước phân tử lớn, có MIC90 rất thấp và chỉ dùng liều thấp rất ít gây tác dụng phụ.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh rằng dùng đơn độc một kháng sinh là ít có hiệu quả, dùng 2 loại kháng sinh kết hợp lại với thuốc ức chế bài tiết acid thì tỷ lệ diệt HP hơn 90%
>> Tìm hiểu thêm về : Thuốc chữa trị đau dạ dày
>> Tìm hiểu thêm về : http://truonganvi.com/benh-dau-da-day
Approved:
Vui lòng Đăng nhập để viết bình luận của bạn